Research Proposal: Determinants of Broadcasting Sponsorship Effectiveness
RESEARCH PROPOSAL
DETERMINANTS OF BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS
I. INTRODUCTION:
Background
Widely known amongst advertising professionals is the famous quote 'Half the money I spend on advertising is wasted; the trouble is I don't know which half' by John Wanamaker, who was considered as father of modern advertising. Wannamaker's implication on limited knowledge of mass media advertising effects raised the question How and When Ad Works? as early as the first days of TV advertising. For a long time, TV have been dominating the media landscape in terms of advertising billings, yet at the same time, created skepticism about its effectiveness as far as intrusive nature and high media clutter are concerned.
The intrusive nature of TV medium, as put by Ephron (2005), "has been one of the keys to television advertising’s great success". This comparative advantage of TV is indicated by marketers' willingness to pay premium cost to compete for the first positions of commercial breaks interrupting a broadcasting program. Yet problems arise when demand surpasses supply – media owners do not have sufficient inventories (premium positions) to satisfy all loading needs – and intrusive interruption of TV commercials could bring negative impacts to the audience. That is not to mention the fact that TV viewers can easily avoid advertisements by zapping channels, being engaged in other activities, or walking out of the room during the commercial breaks. Nowadays, TV viewers are not necessarily to be there while a program is on air; they can forward commercials, or even filter them (as do with spam emails), when they watch favorite shows previously recorded with a digital video recorder or a hard disk-based set-top box.
In that very context, 'sponsorship has emerged as the high-profile centerpiece of many corporate and brand communications strategies' (Deitz et al., 2009). Upsurges in TV sponsorship indicated marketers' belief that sponsorship works. And TV sponsorship is believed to work – first and foremost – in offering chance to avoid consumer's avoidance of perceived intrusive advertisements by 'merging advertising message into the program' (Harvey, 2006), instead of interrupting it.
In Vietnam, a sponsorship package is usually offered with standard benefits as follow:
Sponsor panel:
A short duration commercial, usually of 5 to 10 seconds. Minimal length of the sponsor panel allows no more than the sponsor brand and a short voice-over such as 'this program is brought to you by...' The visual of the sponsor panel could be static or motion graphics, such as a cut-down from the original TV commercial of the brand. Sponsor panels are often used as opening or closing panel of the program, and/or attached to program trailers – video clips promoting and introducing broadcasting schedule of the program – airing ahead of the program schedule.
Sponsor logo:
mounted on the backdrop / background, or on stage (as seen at a musical event), or at a convenient position at the shooting venue (e.g., a studio) that cameras will be directed to while shooting celebrities, hosts, or contestants.
Premium positions: to air the commercial of the sponsor brand, such as the first position of the commercial breaks.
While TV sponsorship expenditure tends to be so enormous that a sponsorship contract is generally full-year effective especially with episodic programs, knowledge on how sponsorship effects operate is still limited (Pham and Vanhuele 1997; Harvey 2006; Deitz 2009). In practice, marketers often consider analyses before making sponsorship decision by asking general questions such as:
* Is the program brand-fit?
* What is the probability that the program factors such as story line / scripts / host / star guests / contestants / settings design, i.e., will be successful in creating audience?
Although program – brand congruence and program success might establish the foundation for sponsorship effectiveness from a managerial standpoint, two problems prevail:
1. While convergence on program – brand congruence may be easily achieved, decision makers might encounter with divergence on assessment of program success.
2. Marketers often ignore operational aspect of sponsorship such as the effects of sponsor panel, logo and the TV commercial of the sponsor brand placed at the first position of the commercial break interrupting the program. Since sponsorship is priced with these benefits, knowledge / lack of knowledge about the value of those "price units" could be success or failure for decision makers.
(updating...)
-------------------------------------------------------------------------- Cháu đang làm luận văn tốt nghiệp. Xin các bác góp ý giúp, cách đặt vấn đề vậy nghe có lối ra không ạ... Thanks ạ.
TTQ là Tự Tương Quan. he he.
Lần chỉnh sửa gần nhất bởi ttq245 : 09-02-10 vào lúc 10:55
Cháu chưa viết xong nữa, viết đến đâu cháu update đến đó. Nếu bác đợi xong mới comment thì xin bác cố gắng đợi thêm. Cuối tháng này cháu phải hoàn tất proposal rồi.
Hi bác, Cháu chưa viết xong nữa, viết đến đâu cháu update đến đó. Nếu bác đợi xong mới comment thì xin bác cố gắng đợi thêm. Cuối tháng này cháu phải hoàn tất proposal rồi.
. Tại bạn để chữ updating nên mọi người nghĩ là còn nữa nên đợi!!! Bên cạnh đó, bạn muốn comment bây giờ cũng có những cái khó cho những người muốn comment ví như người ta chưa rõ cái outline sẽ như thế nào? Bây giờ thì mới chỉ thấy cái Problem mà bạn đặt ra thôi vậy.
Thôi quay lại phần comments:
Tôi thấy bạn viết toàn bằng tiếng anh chắc bạn đang học chương trình gì đó của bên phía nước ngoài. Vậy nên tôi có ý kiến thế này về cách viết theo kiểu nước ngoài vậy. Bạn nên viết chỉ một trang duy nhất - đặc vị trí đầu tiên thường gọi là executive summary/research brief (Thường là cái này được viết sau cùng-tức là sau khi hoàn thành report/proposal) nhưng trước đó mình vẫn cần phải outline ra những cái ý chính sau đó sẽ chỉnh sữa lại khi hoàn thành: Items to include in this page:
Clear statement of objective
Describe the approach taken including decision variables
Principal findings
Major conclusions
Recommendations
Một cái Research Proposal thì thường nên có 2 phần sau:
Stage 1: Defining the problem and writing the brief
Title
Definition of the problem
Background to the problem
Why research is necessary
Use of information
Research objectives.
Target population
Suggested approach
Analysis required
Outputs
Others....
Stage 2: Designing the research and writing the proposal
Decide on a research design that will deliver the evidence needed to address the research objectives (Type of research and methods of data collection....
Set out how the research will done and why your suggestions are suitable
Write this up as a research proposal.
Với những cái bạn đã viết (cho tới thời điểm này) thì có thể comment một vài ý về nội dung như sau:
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
] Although program – brand congruence and program successfulness might establish the foundation for sponsorship effectiveness from a practical standpoint, two problems prevail:
1. While convergence on program – brand congruence may be easily achieved, decision makers might encounter with divergence on assessment of program successfulness.
2. Marketers often ignore operational aspect of sponsorship such as the effects of sponsor panel, logo and the TV commercial of the sponsor brand placed at the first position of the commercial break interrupting the program. Since sponsorship is priced with these benefits, knowledge / lack of knowledge about the value of those "price units" could be success or failure for decision makers.
Chỗ này theo tôi nghĩ bạn cần phải làm rõ ý thêm một tý (cần phải statment lại cho more clearly) vì lý do đề bài của bạn là " DETERMINANTS OF BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS" thì việc đầu tiên là bạn cần phải chỉ ra determinants nào, có tương quan với nhau hay không? Nếu có thì tác động như thế nào (độ mạnh yếu ra sao), tương quan thế nào với BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS. Ví như trong statement 1 của bạn thì cái đoạn sau đây "decision makers might encounter with divergence on assessment of program successfulness" tương quan ra sao với BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS.
Tạm thời như vậy. Nếu như tôi hiểu vấn đề nào sai hoặc không đúng ý bạn thì please correct me!!!
Cháu cám ơn bác hoàng đế đã có comments. Các comments này cháu đều xin ghi nhận hết cả. Lần đầu tiên làm research, lựa chọn lại có xu hướng academic research, nên cháu lúng túng lắm, và lúng túng trên nhiều mặt. Nào là quy cách, nào là ý tưởng. Xưa giờ chỉ biết đọc tự phát, chưa bao giờ đọc tự giác để nghiên cứu, nên khi đối diện với bao nhiêu lý thuyết / literature, từ literature về phương pháp, về kỹ thuật phân tích cho đến literature về lĩnh vực mình quan tâm, thì không thể không loay hoay và rối bù lên, như lần đầu tiên làm... chuyện người lớn vậy.
Vì vậy, comments / inputs / nhắc nhở đều rất có ích. Cháu xin cám ơn.
Như chữ updating chuyển tải, cháu vẫn chưa hoàn thiện research proposal, ngay cả giai đoạn research formulation cũng vẫn chưa xong vì chưa xác định được research problem. Cháu chỉ đang tạm dừng ở chỗ management problem / dilemma thôi và đang... cắn ngón tay. (Ngày trước thì cháu hay cắn bút).
Chính vì thế cháu mới xin hỏi cách dẫn dắt vấn đề như thế có lối ra không, tức là có rõ ràng không, logic không, và có bám theo 1 mạch nào đó để dẫn đến 1 research problem mà người khác cảm thấy interested không. Suy cho cùng thì 1 academic research mà không tạo ra được interest về research problem thì cháu thấy... dzục đi là vừa.
Tạm thời thì xin các ý kiến xoáy vào điểm vừa nêu trên (khi nào tiến triển, cháu lại xin được xoáy vào... chỗ khác). Tỉ như, khi đọc các bác thấy sự liên kết trong mạch văn có chỗ nào yếu / thiếu / vênh, thì... bụp liền để cháu edit lại.
Xin các bác cứ mạnh tay phang cho thằng cháu may ra được thêm tí khôn.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của khanghydaide
"decision makers might encounter with divergence on assessment of program successfulness" tương quan ra sao với BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS.
Cái này thì cháu hiểu ý bác rồi. Cháu đang cắn ngón tay tìm cách... nối qua research problem đây ạ. Đến đó hy vọng sẽ giải quyết được khúc mắc bác nêu.
TTQ là Tự Tương Quan. he he.
Lần chỉnh sửa gần nhất bởi ttq245 : 09-02-10 vào lúc 11:55
Đề tài của bác được duyệt chưa dzợ? Đề tài này thuần tuý theory ạ? Có phải tìm 1 cái industry branch nào để phân tích thêm không? Ví dụ "DETERMINANTS OF BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS trong ngành công nghiệp săn bắn và hái lượm..."
Cái proposal của bác có bị hạn chế số trang không? Em cũng thấy thường dài không quá 1 trang đâu. Bác Khanghy đã đề cập chi tiết rồi. Em lại xin ngắn gọn vầy theo 3 phần chính sau: 1. Đặt vấn đề (bác đã có) 2. Các câu hỏi mà mình phải tự đặt ra (và sẽ tự trả lời trong thesis của mình) 3. Cấu trúc của bài viết
Em xin nhăng nhít về phần cấu trúc bài viết dựa trên chính cái đề tài của bác. Vì theo kinh nghiệm của em thì nên bám sát vào đề bài mà viết. Nếu không phải phân tích cụ thể về 1 ngành đặc thù nào đó, thì cái thesis này nên có 3 phần
1. Sponsorship Bác cần phải đưa ra định nghĩa thế nào là sponsorship. Chắc chắn sẽ có vài học giả đã định nghĩa về sponsorship. Bác cần liệt kê tất cả những định nghĩa mà bác biết. Cuối cùng sẽ chốt lại là "trong khuôn khổ của thesis này, sponsorship sẽ được hiểu là vầy vầy vầy..."
Ngoài ra, sponsorship thuộc promotion/IMC. Bác cũng nên giới thiệu tổng quát các công cụ trong IMC. Bác cũng nên đưa ra một vài tiêu chí để phân biệt giữa Ad, PR, Sponsorship, CSR...
Vì liên quan đến effectiveness, nên em thấy có 1 tiêu chí rất hay để phân biệt giữa sponsorship và CSR là nếu với sponsorship doanh nghiệp thường chỉ tài trợ tiền và không tham gia trực tiếp vào social campaign, thì với CSR doanh nghiệp phải tham gia trực tiếp vào campaign đó.
2. Broadcasting Một lần nữa bác lại phải định nghĩa thế nào là broadcast. Muốn làm điều này, bác lại phải quay về những yếu tố cơ bản tác động, hoặc những yếu tố liên quan khi xây dựng 1 công cụ trong IMC. Ví dụ như đối tượng bị tác động (influencee/sponsoree); nội dung/chương trình/hoạt động (message/action) và channel. Sau khi tất cả các channel được giới thiệu, thì broadcasting sẽ được hiểu là chỉ chuyển tải trên TV và radio?
Bác có phải đề cập đến tất các hình thức sponsorship không? Chỉ cần tập trung vào effectiveness of broadcasting, và có thể bỏ qua effectiveness of sponsorship phải không ạ?
3. Determinants of effectiveness Trước khi bác làm rõ cho em bác định viết effectiveness của cái gì, thì em cũng muốn làm rõ thêm những gì liên quan đến effectiveness.
Hiệu quả vốn là khái niệm trừu tượng “you can’t manage what you can’t measure”, nên việc đánh giá 1 hoạt động thế nào là hiệu quả rất khó. Vậy lại cần phải định nghĩa thế nào được gọi llà hiệu quả. Để làm điều này, người ta thường chia làm 2 phương pháp “input based method và output based method”.
Và theo em determinants of effectiveness sẽ thuộc input based method, xoay quanh việc xác định những yếu tố đầu vào nào tác động đến một hoạt động/quá trình. Ví dụ những yếu tố nào tác động đến sponsorship? Những yếu tố nào tác động đến broadcast?…. Và sau khi tìm và liệt kê được 1 vài yếu tố (ví dụ sponsor panel, sponsor logo, premium position…) thì ngoài việc tìm ra mối tương quan correlation giữa các factors đó, thì bác cũng nên xác định thêm là yếu tố nào có đóng vai trò quan trọng nhất, lớn nhất. Minh sẽ đầu tư nhiều thời gian, chi phí vào key factor đó thì sẽ có thể đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động/quá trình đó.
Em cũng nghĩ phần quan trọng nhất chính là phần 3, bác phải research ra được các determinants đó. Còn 2 phần đầu thì toàn lý thuyết đơn thuần thôi nên chắc không có vấn đề gì.
Tạm thời thế đã ạ. Bác cứ nghỉ ngơi, ăn tết vui vẻ. Còn em, em lượn ạ.
I don't know who you are I don't know your company's product. I don't know what your company stands for. I don't know your company's customers. I don't know your company's record. I don't know your company's reputation. Now – what was it you wanted to sell me
Đề tài này thuần tuý theory ạ? Có phải tìm 1 cái industry branch nào để phân tích thêm không? Ví dụ "DETERMINANTS OF BROADCASTING SPONSORSHIP EFFECTIVENESS trong ngành công nghiệp săn bắn và hái lượm..."
Không biết có thuần túy theory không, nhưng chắc không cần apply cho 1 industry nào cả ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Cái proposal của bác có bị hạn chế số trang không? Em cũng thấy thường dài không quá 1 trang đâu.
Không giới hạn đâu ạ, miễn là không quá 20 trang! Chỉ e là chả có gì để viết đâu ạ. 20 trang đây là trước khi đi vào phân tích đấy ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
"trong khuôn khổ của thesis này, sponsorship sẽ được hiểu là vầy vầy vầy..."
Có lẽ phải thế thật.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Ngoài ra, sponsorship thuộc promotion/IMC. Bác cũng nên giới thiệu tổng quát các công cụ trong IMC. Bác cũng nên đưa ra một vài tiêu chí để phân biệt giữa Ad, PR, Sponsorship, CSR...
Cái này cháu cạch.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Vì liên quan đến effectiveness, nên em thấy có 1 tiêu chí rất hay để phân biệt giữa sponsorship và CSR là nếu với sponsorship doanh nghiệp thường chỉ tài trợ tiền và không tham gia trực tiếp vào social campaign, thì với CSR doanh nghiệp phải tham gia trực tiếp vào campaign đó.
Cái này cạch luôn.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
2. Broadcasting Một lần nữa bác lại phải định nghĩa thế nào là broadcast. Muốn làm điều này, bác lại phải quay về những yếu tố cơ bản tác động, hoặc những yếu tố liên quan khi xây dựng 1 công cụ trong IMC. Ví dụ như đối tượng bị tác động (influencee/sponsoree); nội dung/chương trình/hoạt động (message/action) và channel. Sau khi tất cả các channel được giới thiệu, thì broadcasting sẽ được hiểu là chỉ chuyển tải trên TV và radio?
Cái này cháu cạch luôn. Nhưng ý bác rất relevant, nên cháu sẽ cân nhắc sửa broadcasting thành TV luôn cho tiện, khỏi phải chua thêm.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Bác có phải đề cập đến tất các hình thức sponsorship không? Chỉ cần tập trung vào effectiveness of broadcasting, và có thể bỏ qua effectiveness of sponsorship phải không ạ?
Nhất nhất là như thế rồi ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
3. Determinants of effectiveness Trước khi bác làm rõ cho em bác định viết effectiveness của cái gì, thì em cũng muốn làm rõ thêm những gì liên quan đến effectiveness.
Hiệu quả vốn là khái niệm trừu tượng “you can’t manage what you can’t measure”, nên việc đánh giá 1 hoạt động thế nào là hiệu quả rất khó. Vậy lại cần phải định nghĩa thế nào được gọi llà hiệu quả. Để làm điều này, người ta thường chia làm 2 phương pháp “input based method và output based method”.
Chắc phải thế thôi ạ, không chạy đi đâu được.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Và theo em determinants of effectiveness sẽ thuộc input based method, xoay quanh việc xác định những yếu tố đầu vào nào tác động đến một hoạt động/quá trình. Ví dụ những yếu tố nào tác động đến sponsorship? Những yếu tố nào tác động đến broadcast?…. Và sau khi tìm và liệt kê được 1 vài yếu tố (ví dụ sponsor panel, sponsor logo, premium position…) thì ngoài việc tìm ra mối tương quan correlation giữa các factors đó, thì bác cũng nên xác định thêm là yếu tố nào có đóng vai trò quan trọng nhất, lớn nhất. Minh sẽ đầu tư nhiều thời gian, chi phí vào key factor đó thì sẽ có thể đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động/quá trình đó.
Thế thì mới gọi là determinants chứ ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Em cũng nghĩ phần quan trọng nhất chính là phần 3, bác phải research ra được các determinants đó. Còn 2 phần đầu thì toàn lý thuyết đơn thuần thôi nên chắc không có vấn đề gì.
Chứ còn gì nữa ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của MarketingCN
Tạm thời thế đã ạ. Bác cứ nghỉ ngơi, ăn tết vui vẻ. Còn em, em lượn ạ.
Em sẽ không nói vượt qua hững gì ttq đã viết ở post đầu tiên nhé vì chưa biết cả đoạn sau anh xử lý như thế nào. Theo em,
- Anh brief cho mọi người yêu cầu viết thesis của trường anh? Nếu như đề tài trường em làm yêu cầu thực tế thì đề tài bên anh lại yêu cầu academic phải ko?
- Vì yêu cầu trên nó sẽ tác động đến tên đề tài, tên có thể rõ hơn một chút không anh? Đọc em không rõ bài anh viết sẽ liên quan đến + Lý luận các yếu tố tác động đến tài trợ, chẳng hạn như các ông nghiên cứu nói tưng đây yếu tố giờ tôi tìm ra thêm? + Hay là so sánh các determinants xem cái nào tác động khán giả nhiều nhất? + Etc Tên đề tài của anh làm em có cảm giác đây là nghiên cứu chung về determinants của sponsorship, nhưng rõ rang khi triển khai ý đầu tiên của sponsorship anh đã dùng “in Vietnam, a sponsorship package ...” Cách nào đó anh đã scope đề tài lại ngay tại chỗ đó, vậy sao không thể hiện luôn trên tên đề tài cái scope ấy?
- Anh cho các mục của proposal trước khi anh viết sâu vào trong và độ dài tương đối của từng mục. Nói chung có đường hướng trước mạch lạc hơn đối với người comment vì em thấy có bác comment ra ngoài những gì anh đã trình bày.
- Đoạn 2 khi anh triển khai ý khán giả từ chối xem quảng cáo (TVCs) ngày càng tăng, em nghĩ anh nên quote nguồn vì nguyên tắc làm thesis là tổng hợp tài liệu, ý kiến của người viết chỉ rơi vào chap cuối.
-Em đang hơi lo vì ttq triển khai ý khá kỹ, không biết các đoạn sau có kéo dài proposal quá không? Những phần nào phải giải thích dài cho vào literature review tốt hơn. Nếu là người đọc em không quan tâm lắm chi tiết trong proposal, em quan tâm cái tổng quan cách anh triển khai tòan bài. Thiển ý của em đọan anh post lên chỉ chiếm chưa đến 1/5 của proposal, các phần còn lại quan trọng là vấn đề anh định nghiên cứu (problem statement), mục tiêu anh định đóng góp gì cho lĩnh vực này, các hypothesis, scope of research (Chuyện anh đã đưa ra scope rõ rang rồi thì sau này không phải lăn tăn mình có nên bỏ thêm phần này vào bài), rồi methodology, etc. Chờ các đọan sau nữa hen anh
Còn ý cuối, mục đích làm bài này của anh là gì? -Thêm kiến thức về mảng này -Luyện viết -Hay lấy cái bằng thui Anh post hết lên cho bà con mổ ruột cái coi.
Nếu anh tính luyện viết em đồng ý viết tưng đây 2 tuần :D, nếu nói tăng kiến thức em đề nghị chạy nhanh hơn vì đây là dòng đầu tiên trong bài của anh, nên bỏ thời gian ra nhiều hơn cho các mục tới. Lấy bằng thôi thì khỏi post bà con mất công. Hehe :D
Cụm hồng sân thượng đầy hoa Tháng giêng ở trên nóc nhà (reo lên nhé!) Trong phòng thì nồm và ẩm Chỉ muốn mùa xuân mau qua (phàn nàn)
Anh brief cho mọi người yêu cầu viết thesis của trường anh? Nếu như đề tài trường em làm yêu cầu thực tế thì đề tài bên anh lại yêu cầu academic phải ko?
Hôi, cháu hông brief đâu. Đã proposal mà còn phải brief để người đọc hiểu proposal thì chắc cái proposal dzục luôn là vừa. Còn abstract, thì cháu để đó tính sau. Nếu giả, proposal viết xong mà không hoàn thành nhiệm vụ, thì ắt là phải sửa thôi. Còn academic hay problem solving, thì cháu không rõ là có phải nêu trong đề tài không ạ. Và nếu có thì nêu như thế nào? Cái này, để cháu hỏi lại thầy.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của honeygau
Vì yêu cầu trên nó sẽ tác động đến tên đề tài, tên có thể rõ hơn một chút không anh? Đọc em không rõ bài anh viết sẽ liên quan đến + Lý luận các yếu tố tác động đến tài trợ, chẳng hạn như các ông nghiên cứu nói tưng đây yếu tố giờ tôi tìm ra thêm? + Hay là so sánh các determinants xem cái nào tác động khán giả nhiều nhất? + Etc
Cái này thì,
Nếu là factors influencing on... hoặc
Determinants of...
thì đã cụ thể rồi đấy ạ. Determinants là key factors influencing, có nghĩa là phải so sánh và xác định factor nào có score cao nhất ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của honeygau
Tên đề tài của anh làm em có cảm giác đây là nghiên cứu chung về determinants của sponsorship, nhưng rõ rang khi triển khai ý đầu tiên của sponsorship anh đã dùng “in Vietnam, a sponsorship package ...” Cách nào đó anh đã scope đề tài lại ngay tại chỗ đó, vậy sao không thể hiện luôn trên tên đề tài cái scope ấy?
Chắc ý bác gấu là: thêm chữ "Vietnam Case"?
Cái này thì cháu cũng lúng túng, không biết thông thường người ta làm thế nào. Nay bác góp ý vậy, thì chắc cháu sẽ quay lại hỏi thầy cho chắc ăn.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của honeygau
- Anh cho các mục của proposal trước khi anh viết sâu vào trong và độ dài tương đối của từng mục. Nói chung có đường hướng trước mạch lạc hơn đối với người comment vì em thấy có bác comment ra ngoài những gì anh đã trình bày.
Vì các bác í không đọc, có lẽ do cháu viết ẹ quá ạ. . Nhưng mà cháu chưa hiểu ý bác lém. Đề mục thì cháu hiểu rồi, nhưng còn độ dài tương đối là thế nào ạ? Có phải là nhìn giữa 2 mục thì người đọc biết nó cỡ nào để điều chỉnh thái độ đọc phải không ạ?
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của honeygau
- Đoạn 2 khi anh triển khai ý khán giả từ chối xem quảng cáo (TVCs) ngày càng tăng, em nghĩ anh nên quote nguồn vì nguyên tắc làm thesis là tổng hợp tài liệu, ý kiến của người viết chỉ rơi vào chap cuối.
Cái này thì cháu cũng thắc mắc đây. Câu hỏi nêu ra rất là chí lý.
Knowledge nghe bảo là có 2 phần Priori & Posteriori. Phần Priori của research, đến từ quá trình deductive và / hoặc inductive. Deductive, hẳn là "tổng hợp nguồn" mà bác nói. Nhưng còn mắt cháu quan sát, tức là inductive, chả lẽ không được phép đưa vào (cháu chưa thảo luận việc này với thầy, hay với ai trong giới nghiên cứu cả, cho nên đúng hay sai là... hên xui he he). Vấn đề là, cháu biết quan sát của cháu chả "nghĩa địa" gì, nên cháu để là
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
That is not to mention the fact that TV viewers can easily avoid... they can forward...
'Can' thôi ạ, cho nó có gì đó vừa observation, vừa inference, vừa đúng / sai gì cũng không quan trọng và không tổn hại đến phylosophy hay ethics của research. Ở đây, ý cháu là 'can' tuy không critical, nhưng nó link (dù là mong manh về mặt literature) đến management problem, từ đó mới dẫn đến research problem. Sự dẫn dắt đó là cái cháu muốn nhắm đến.
Tuy vậy, phải nhìn nhận là, cái ý đó của cháu chưa được làm cho rõ ràng để người đọc đọc vào là hiểu ngay. Cháu sẽ nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm ạ.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
-Em đang hơi lo vì ttq triển khai ý khá kỹ, không biết các đoạn sau có kéo dài proposal quá không? Những phần nào phải giải thích dài cho vào literature review tốt hơn.
Qua ý của bác MarketingCN và bác honeygau, thì cháu thấy có độ khác biệt với cháu về 'research proposal'; điều này làm cho cháu lúng túng thật sự. Research proposal của cháu được quy định là không quá 20 trang đối với thesis (nếu có cái để viết). Cháu nghĩ mình chỉ viết được khoảng 10 trang thôi là giỏi lắm rồi.
Trong khi đó, ý 2 bác là proposal chỉ có 1 trang. Và còn có ý là Literature Review không thuộc proposal.
Theo mong đợi của các thầy chỗ cháu, thì Research Proposal bao gồm tất tần tật mọi thứ trước giai đoạn data collection & analysis. Có nghĩa là, Proposal sẽ có lit review (sơ lược), model, hyptheses, design, resources, timeframe, etc... nôm na là 1 cái plan chi tiết ạ.
Các bác nói thế làm cháu cũng phân vân, không phải phân vân không biết phải làm gì, mà phân vân để ý thức là sẽ review lại việc này khi có điều kiện.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
Nếu là người đọc em không quan tâm lắm chi tiết trong proposal, em quan tâm cái tổng quan cách anh triển khai tòan bài. Thiển ý của em đọan anh post lên chỉ chiếm chưa đến 1/5 của proposal, các phần còn lại quan trọng là vấn đề anh định nghiên cứu (problem statement), mục tiêu anh định đóng góp gì cho lĩnh vực này, các hypothesis, scope of research (Chuyện anh đã đưa ra scope rõ rang rồi thì sau này không phải lăn tăn mình có nên bỏ thêm phần này vào bài), rồi methodology, etc. Chờ các đọan sau nữa hen anh
Cái này vừa đề cập ở trên rồi. Mọi thứ được trông đợi là sẽ gói trong proposal hết thảy.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
Còn ý cuối, mục đích làm bài này của anh là gì? -Thêm kiến thức về mảng này -Luyện viết -Hay lấy cái bằng thui Anh post hết lên cho bà con mổ ruột cái coi.
Cháu không cần cái bằng, vì dĩ nhiên nó phải có sau khi bỏ tiền ra học. Nhưng vài năm nữa mới có cái bằng thì cháu thấy không thành vấn đề.
Cháu làm bài này, để thêm kiến thức cũng có, để luyện viết cũng có, để tăng vốn ngôn ngữ chủ động trong lĩnh vực hàn lâm cũng có (ngôn ngữ chủ động là khả năng sử dụng ngôn ngữ để phát ngôn), nhưng trên hết với cháu đây là 1 rào chắn cháu phải nhảy qua. Nhảy qua rào rồi, cháu sẽ lụm bằng sau. Còn chưa nhảy qua, ai đưa bằng thì cháu cũng chưa cần lấy.
Việc này là nhu cầu, là sở thích thôi ạ, chứ không có gì đặc biệt cả.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
Nếu anh tính luyện viết em đồng ý viết tưng đây 2 tuần :D, nếu nói tăng kiến thức em đề nghị chạy nhanh hơn vì đây là dòng đầu tiên trong bài của anh, nên bỏ thời gian ra nhiều hơn cho các mục tới.
Cháu có cái dở, là chưa có vấn đề chắc, thì không thể dẫn nhập chắc. Thời gian vừa rồi cháu băn khoăn là băn khoăn vấn đề và phương pháp xử lý. Tất cả cái này liên hoàn, cho nên lâu là lâu như vậy.
--------------------------------------------------------------------------- Tóm lại là cám ơn các bác nhiều lắm. Mỗi người 1 ý, giúp cháu nhìn nhận vấn đề toàn cảnh hơn.
TTQ là Tự Tương Quan. he he.
Lần chỉnh sửa gần nhất bởi ttq245 : 10-02-10 vào lúc 10:38
Tạm thời thì xin các ý kiến xoáy vào điểm vừa nêu trên (khi nào tiến triển, cháu lại xin được xoáy vào... chỗ khác). Tỉ như, khi đọc các bác thấy sự liên kết trong mạch văn có chỗ nào yếu / thiếu / vênh, thì... bụp liền để cháu edit lại. Xin các bác cứ mạnh tay phang cho thằng cháu may ra được thêm tí khôn.
Bạn đã nói như trên thì tôi mạnh dạn phang thẳng luôn (trúng chỗ nào thì trúng - hên xui á ).
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
Như chữ updating chuyển tải, cháu vẫn chưa hoàn thiện research proposal, ngay cả giai đoạn research formulation cũng vẫn chưa xong vì chưa xác định được research problem. Cháu chỉ đang tạm dừng ở chỗ management problem / dilemma thôi và đang... cắn ngón tay. (Ngày trước thì cháu hay cắn bút). Chính vì thế cháu mới xin hỏi cách dẫn dắt vấn đề như thế có lối ra không, tức là có rõ ràng không, logic không, và có bám theo 1 mạch nào đó để dẫn đến 1 research problem mà người khác cảm thấy interested không. Suy cho cùng thì 1 academic research mà không tạo ra được interest về research problem thì cháu thấy... dzục đi là vừa.
It seems you are stuck in management decision problem. Since your problem statements were not clearly enough and it seems that you are somehow confused between management decision problem and marketing research problem. So I just want to quote this following definitions (Hope that they willl shed some light on your problem statements)
Management Decision Problem:
Asks what the decision maker needs to do
Action oriented
Focuses on symptoms
Marketing Research Problem
Asks what information is needed and how it should be obtained
Information oriented
Focuses on the underlying causes
According to the above definition, we can come up with some examples about Management Decision Problem and Marketing Research Problem as follows: Manangement Decision Problem ==============> Marketing Research Problem Should the advertising campaign be changed? =======> To Determine the effectiveness of the current Ads campaign
Should we use the broadcasting sponsorship as ===> To determine the targeted customers' media habit consumption our main media mix to approach targeted customers? ===>, the effectiveness of broadcasting sponsorship compare to other media.......
Defining Problem dialogue:
DM: it appears that there is a decline in the level of engagement and commitment with our broadcasting sponsorship? (it is not really effectiveness) R: How do you know that? DM: Uhm, it is reflected in our sponsorship measurement report (through sponsorship recall, brand awareness, emotional connection....?) R: Why do you think your current broadcating sponsorship is not really effectiveness DM: I wish I knew R: What about your competitors' broadcasting sponsorship? DM: I suspect we are better than our competitors on some factors (such as the premium postion for sponsor panel, great logo....) and worse thatn them on others R: How customers/audience view your broadcasting sponsorship? (brand - problem fit?....) DM: I think most of them view it positively, although we may have some weak area.
=====> Management Decision Problem : What should be done to improve the effectiveness of the current broadcasting sponsorship? ======> Marketing Research Problem: Determine the factors of broadcasting sponsorship effectiveness, the relative strengths and weaknesses of those factors with respect to influence broadcasting sponsorship effectivenes (via emotional connection, sponsor recall, engagement, commitment index..... ).
Hope that it helps. If these above dialogues do not address your concern, please feel free to correct me.
Em xác nhận là viết proposal sẽ nằm trong khỏang 10 trang và các bước giống như ttq nói nhé, ngắn hơn thì khó viết đầy đủ.
Em đang thấy những cái ttq viết ngắn quá chưa thể hiện nhiều, phần bác khanghy đưa ra sẽ là phần anh ttq tiếp tục viết ở đọan sau. Nếu anh post nhiều hơn thì mới rõ hơn ý định viết bài của anh.
Trường em ngày xưa yêu cầu tên đề tài thể hiện luôn scope, nếu như làm ở Việt Nam thì đề ra là thị trường VN. Chuyện em muốn coi cái cấu trúc proposal vì em thấy phần anh đưa cho xem quá ít so với tổng thể nên hỏi.
Chuyện inductive hay deductive ngay trong proposal cũng phải đề cập. Kiểm tra lại kiến thức của em luôn ha, theo em biết thì deductive là tổng hợp nguồn, đi từ rất nhiều tác giả so sánh ý kiến này nọ, các lý thuyết chỗ này chỗ kia rồi đem ra áp dụng cho case nào đó và xác định lý thuyết đó trong trường hợp như vậy dư thiếu ra sao, trên thực tế cần recommend gì.
Còn inductive là bằng tổng hợp quan sát của người viết, etc .. anh sẽ làm ra một cái lý thuyết hay tư tưởng mới nào đó chứ ko còn là đi theo cái cũ để kiểm chứng.
Nếu hiểu biết của em là đúng thì em ko nghĩ anh có thể áp dụng inductive ở đây khi cái anh hướng đến là việc đánh giá determinant nào score cao nhất trên thị trường VN.
Anyway là em muốn coi hết cái proposal này, hiện giờ sẽ không biết thêm gì nhiều để comment. Em hỏi ý định của anh vì em lo rằng thời gian anh chăm chút cho phần này sẽ quá nhiều hổng đủ làm hết bài. Cá nhân em thấy các phần sau còn rất nhiều và quan trọng.
Cụm hồng sân thượng đầy hoa Tháng giêng ở trên nóc nhà (reo lên nhé!) Trong phòng thì nồm và ẩm Chỉ muốn mùa xuân mau qua (phàn nàn)
Hi hiệp sĩ ttq tonight for five/fight, Khanghy viết thêm mấy dòng này nhằm nói rõ về cách trình bày vậy chứ không hiểu lầm ý khanghy:
Post trước khanghy nói viết 1 trang executive summary/research brief là mình để ở ngoài cùng đầu tiên, sau đó là tới trang table of contents.....Chứ khanghy không nói là phải viết cái proposal 1 trang.
Mấy chương trình nước ngoài khi yêu cầu làm cái thesis hay written report thì thường giới hạn 25 pages thôi. Vậy nên bạn cần phân chia ra introduction gì đó tối đa là 2.5 - 3 trang sẽ bao gồm:
Objectives
Approach
Assumption
Problems encountered and how they were resolved
Caveats – if necessary
Những phần tiếp theo bạn tự viết theo ý của bạn vậy. Tuy nhiên, tôi recommend là những vấn đề gì thuộc về definition/figures.... đưa ra index hết (vì cái này không có count into official page).
Chỉ có một đề nghị như thế này (nếu bạn thấy được) nên tìm công ty tài trợ cho dự án của bạn/nên làm một cái MR mà liên quan thực tế tới công ty họ luôn như thế bạn vừa có tiền mà vừa gain kiến thức rất tốt. Tôi nghĩ nếu mà bạn có cách tiếp cận tốt cứ yêu cầu tài trơ $3,000-$5,000/project thì cũng không là vấn đề gì đầu. (Dĩ nhiên dự án phải liên quan tới những cái công ty muốn).
Úi zời ơi, các bác nhiệt tình "tấp bi" cháu thế này làm cho cháu cũng phải... cả thẹn. Cháu sẽ quyết tâm cố gắng viết cho đàng hoàng để không phụ lòng... "soi mói" của các bác ạ.
Tết nay, cháu không thèm đi chơi Vì có proposal hành cháu đã đủ vui rồi Tết nay, cháu không thèm đốt pháo Vì comment mấy bác đã lùng bùng hai tai rồi
He he....
Cháu xin hớn hở báo cáo với các bác là cháu đã hình thành model, sau khi review literature chiều nay, và cảm thấy cuộc đời tươi sáng hơn rồi. Và sau khi có model thì cháu thấy cần phải sửa đề tài nghiên cứu của thesis. Cháu chưa biết đặt lại đề tài thế nào, nên xin các bác góp ý sau khi cháu viết nốt.
Tết các bác tranh thủ vào góp ý cho thằng cháu với nhé.
Tạ các bác và chúc các bác một mùa xuân hớn hở, rộn ràng, tràn đầy sức sống và nhiệt huyết. Xưa nay, những lời chúc Tết mà cháu từng nghe và từng sử dụng chỉ tập trung vào một mối quan hệ. Cụ thể là cháu chúc cho các bác (hoặc các bác cùng gia quyến). Nhưng Tết này, cháu không muốn chỉ dừng lại 1 mối quan hệ nữa. Cháu chúc cho các bác hớn hở, rộn ràng, tràn đầy sức sống và nhiệt huyết để các bác yêu đời, mạnh mẽ để là chỗ dựa nhân bản sự yêu đời và mạnh mẽ đó cho gia đình, bạn bè, chòm xóm và xã hội.
Một câu hỏi về ngôn ngữ research: trình bày các mối quan hệ trên như thế nào ạ? . Tiếng Việt và English, please!
TTQ là Tự Tương Quan. he he.
Lần chỉnh sửa gần nhất bởi ttq245 : 10-02-10 vào lúc 22:05
Cháu xin hớn hở báo cáo với các bác là cháu đã hình thành model, sau khi review literature chiều nay, và cảm thấy cuộc đời tươi sáng hơn rồi. Và sau khi có model thì cháu thấy cần phải sửa đề tài nghiên cứu của thesis. Cháu chưa biết đặt lại đề tài thế nào, nên xin các bác góp ý sau khi cháu viết nốt.
Cool, you have seen some light at the end of the tunnel.
Trích dẫn:
Trích dẫn nội dung bài viết của ttq245
Một câu hỏi về ngôn ngữ research: trình bày các mối quan hệ trên như thế nào ạ? . Tiếng Việt và English, please!
You can use one of three following types (or all of them if necessary):
Verbal model- the variables and their relationships are stated in prose form
Graphical model
Mathematical model
khanghy
Lần chỉnh sửa gần nhất bởi khanghydaide : 11-02-10 vào lúc 11:42
Tình hình là sau khi ghi nhận góp ý của các bác, cháu đã viết lại, điều chỉnh đề tài cho sát hơn với nội dung, bổ sung thêm các phần góp ý.
Đề tài mới cháu đã chốt lại sau khi thảo luận với giáo viên hướng dẫn là:
"The Effects Of Program Involvement, Perceived Advertising Intrusiveness And Advertising Fragments Perception On Television Sponsorship Effectivenes"
Phần cháu đã điều chỉnh: thêm vào các đề mục nhỏ.
Phần cháu đã bổ sung: giới thiệu về sponsorship nói chung và vị trí của TV sponsorship nói riêng trong lĩnh vực sponsorship research. Phần này cháu đưa vào trong phần Scope of Research để tránh đứt mạch văn trong phần Background. Phần này là cháu làm theo góp ý của bác MarketingCN. Khi cháu thảo luận việc này với Thầy hướng dẫn, Thầy cháu khẳng định ngay: "đúng rồi, đúng rồi", và cho cháu 1 bài báo chuyên ngành khác cũng có phần phân biệt TV sponsorship với sponsorship nói chung.
Cháu mời các bác chém tiếp. Trong khi đó cháu đang suy nghĩ để viết các phần còn lại. Càng viết, càng nghĩ, càng thú vị và càng... sợ (vì sắp cháy deadline rồi mà vẫn còn đủng đa đủng đỉnh).