| Snapshot: Câu Chuyện Truyền Hình Lời giới thiệu: Marticle này được tổng hợp từ các bài viết trả lời của tôi về chủ đề “VTV-VTC Không Đội Trời Chung”. Có thể đâu đó người đọc sẽ nhận ra một điểm nào đó bất hợp lý, hoặc chưa được cập nhật, thì xin hiểu rằng bài marticle này chỉ phản ánh quan điểm hoàn toàn cá nhân của riêng tôi, một người đã chọn advertising media làm nghề nghiệp. Hy vọng một quan điểm cá nhân có thể đóng góp một cái nhìn khiêm tốn về những gì đang diễn ra quanh chúng ta trong lĩnh vực truyền hình nói riêng và marketing nói chung. Tại sao chúng ta có nhiều Đài Truyền hình đến vậy? Chuyện không phải của thế hệ hôm nay. Là dấu tích & tấm gương soi lại ngày hôm qua. Trong khu vực Trung - Ấn, có lẽ chỉ sau Trung Quốc & Ấn Độ, Việt Nam có số kênh truyền hình analog nhiều hàng thứ 3. Xin nói rõ là analog, không phải digital & cable, để mọi người đừng hiểu lầm. Toàn quốc có 64 tỉnh thành, thì số Đài Truyền hình là 67, 68 đơn vị. Cách quy hoạch mỗi tỉnh/thành có ít nhất một kênh truyền hình và/hoặc phát thanh là dấu tích thú vị cho những ai quan tâm đến nền kinh tế chính trị Việt Nam qua các thời kỳ. Có một thời, mỗi một tỉnh được quy hoạch thành một pháo đài, nếu dùng ngôn ngữ của nhà cầm quân, hoặc thành một module độc lập về chính trị, văn hóa, kinh tế & xã hội, nếu dùng ngôn ngữ của tuổi trẻ hôm nay mà miêu tả. Một module có thể ghép vào tháo ra, nếu lỡ mất cũng không ảnh hưởng đến cả khối còn lại. Mỗi tỉnh là một đơn vị chiến đấu, tự cung tự cấp, tự quản lý nhưng vẫn chia sẻ nhiệm vụ của cả khối chiều dài đất nước. Chính vì vậy, mỗi tỉnh đều phải có một cơ quan tuyên truyền, phục vụ cho công tác chính trị trong tỉnh. Mỗi đơn vị chiến đấu phải tự lo thân mình, nhưng tài nguyên và năng lực kinh tế của mỗi đơn vị lại không như nhau. Chính vì vậy dù Đồng bằng sông Cửu Long dư thừa sản lượng gạo, nhưng người dân Tp.HCM lại xếp hàng rồng rắn mua gạo tổ. Ttq tôi đến giờ vẫn nhớ những năm đầu 80 phải hy sinh thú vui chơi bắn bi, đánh đáo đặng thay người lớn xếp hàng giữ chỗ mua gạo như thế nào. Tất nhiên là chỉ có vài lần, nhưng tuổi nhỏ ham chơi, đến giờ kỷ niệm vẫn như in. Đó là bối cảnh lý giải tại sao nước ta có nhiều Đài Truyền hình đến vậy. Truyền hình ngày hôm nay Tôi chưa nghe ai bàn về thị trường truyền thông, như là một đối tượng marketing đượ̣c công nhận chính thức, trên các phương tiện truyền thông. Chính vì thế mới có câu hỏi "có tồn tại không cái gọi là thị trường truyền hình?" Thị trường truyền hình là cụm từ không chính thức để mô tả một thực tại đã tồn tại từ ngày Việt Nam xóa bỏ bao cấp kinh tế, dù là ở dạng sơ khai. Nó lộ diện dần dần cùng với thời kỳ quá độ của đất nước để bước vào một nền kinh tế thị trường được quốc tế công nhận. Với tôi, điều thú vị của thị trường truyền hình nằm ở chỗ người tiêu dùng không phải là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự tăng trưởng. Sự xuất hiện của cái gọi là Pay TV mới diễn ra trong thời gian gần đây, nhưng trong bối cảnh penetration của analog TV vẫn chiếm ưu thế, thì người dân vẫn được xem truyền hình miễn phí, và các đơn vị truyền hình không chỉ đơn thuần làm kinh tế mà còn gánh vác thêm nhiệm vụ truyền thông chính trị. Chính vì thế người làm truyền hình, rộng hơn là truyền thông, có những nỗi khổ không dễ gì chia sẻ. Người tiêu dùng từ lâu đã quên mất họ đang thụ hưởng các dịch vụ miễn phí & không có nhu cầu nhận thức các dịch vụ đó đang được duy trì từ nguồn thu quảng cáo của nhà Đài. Đâu đó trên mặt báo người ta vẫn dùng những từ ngữ phi marketing để mổ xẻ những chủ đề liên quan đến marketing. Từ phản cảm được mọi người bắt chước nhau sử dụng để đặt tên cho một thái độ của người tiêu dùng đối với mẫu quảng cáo là một trong những từ phi marketing, theo ý kiến riêng tôi. Với tôi, đó là một biểu hiện của việc người ta chưa ý thức đến sự tồn tại của thị trường truyền hình như vốn dĩ nó vẫn tồn tại ngay từ ngày các spot quảng cáo đầu tiên của nhà may Tí, nhà may Tèo xuất hiện vào đúng 19h trên HTV7. Tỉ trọng đóng góp vào GDP mỗi năm của ngành dịch vụ ngày một tăng lên & đang được các nhà quản lý khuyến khích để con số % càng tăng thêm nữa. Nhưng nếu có thể tách ra trong các ngành dịch vụ, chỉ tính riêng doanh số quảng cáo của nhà Đài, thì tôi tin rằng con số hơn 300 triệu USD thu được mỗi năm sẽ làm mọi người thay đổi cách suy nghĩ & thái độ của họ về quảng cáo trên truyền hình bấy lâu nay. Có hay không một thị trường truyền hình? Có những lời bình luận từ người tiêu dùng truyền hình (thay cho từ khán giả truyền hình) nghe vô cùng uy lực. Phản hồi lại giải thích cho sự cố kỹ thuật ngày 7/mộthai/06 khiến cho một số hộ không bắt tốt sóng HTV7 của Ông Huỳnh Văn Nam, Giám đốc Đài Truyền hình Tp.HCM, một bạn đọc đã để lại lời bình trên Tuổi Trẻ Online: "Sự cố kỹ thuật của HTV là đúng, nhưng HTV đã thiếu tôn trọng cộng đồng khi không thông báo về việc bảo trì này". Xin nói thêm nếu có mem nào ở Hà Nội vào đọc bài này. Đài Truyền hình Tp.HCM cũng có tên ngắn HTV như Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội. Logo hai Đài khác nhau. Nếu logo của HTV Tp.HCM là 3 chữ HTV trắng trên nền 3 màu RGB thì logo HTV Hà Nội là chữ H cách điệu thành hai làn sóng màu RGB tỏa ra hai bên ngôi Văn Miếu. Thị trường truyền hình có tồn tại hay không, còn tùy ta xét ở khía cạnh nào. Mấy hổm rày theo dõi cuộc tọa đàm "Xã hội hóa truyền hình - cạnh tranh hay hợp tác?" thấy có ý kiến cần phải quy hoạch lại ngành truyền hình, tránh tình trạng mỗi tỉnh có một Đài Truyền hình làm lãng phí đầu tư của nhà nước. Ý kiến này hồi mới đi làm tôi đã nghe rồi, nhưng mãi đến hôm nay mới hiểu lờ mờ sự việc mà ngẫm nghĩ. Ở khía cạnh quản lý nhà nước, mỗi năm nhà nước đầu tư cho các Đài Truyền hình để phục vụ nhân dân & làm công tác tuyên truyền trong nhân dân. Đây hẳn là số tiền khổng lồ, mặc dù những thông tin này không được công bố trên báo chí. Một mặt, đầu tư của nhà nước đủ các Đài nuôi quân, trang bị máy móc, v.v... để hoạt động ở mức độ cơ bản, đáp ứng được nhiệm vụ chính trị được giao. Mặt khác, nhu cầu thông tin, giải trí, văn hóa của người dân ngày càng được nâng cao. Họ muốn chương trình truyền hình hôm nay hơn ngày hôm qua & kém hơn ngày mai. Và họ muốn xem cái họ muốn xem chứ không xem cái người ta trông đợi họ xem. Và thế là, cùng với xu thế của nhiều ban ngành khác, xã hội hóa ngành truyền hình, hiểu một cách đơn giản là tận dụng các nguồn lực ngoài quốc doanh để làm truyền hình là điều tất yếu. Cái tất yếu kéo theo cùng với xã hội hóa là các quan hệ của thị trường. Xã hội hóa, nhưng chưa công nhận thị trường là cái lấn cấn đang tồn tại. Đẩy mạnh xã hội hóa truyền hình, cho phép tư nhân đầu tư vào sản xuất chương trình để đổi lấy quảng cáo & kinh doanh thời lượng quảng cáo đổi được đang giúp các sản phẩm truyền hình ngày một đi lên. Ở ngoài kia, một mặt người tiêu dùng truyền hình mong đợi được phục vụ miễn phí như là một thói quen có từ trong quá khứ. Mặt khác, họ không ngại bày tỏ sự nhạy cảm với các mẫu quảng cáo trong các chương trình họ xem. Một khi thị trường truyền hình chưa được công nhận, sẽ không có ai giải thích cho người tiêu dùng hiểu được các chương trình game shows như Ai Là Triệu Phú, Hãy Chọn Giá Đúng trên VTV3, Đuổi Hình Bắt Chữ trên Đài PTTH Hà Nội, Chung Sức, Hát Với Ngôi Sao và Trúc Xanh trên HTV7, v.v... với tiền bản quyền có thể lên đến hàng triệu USD là do các công ty quảng cáo, hoặc công ty sản xuất chương trình đầu tư. Các nhà đầu tư sống bằng việc kinh doanh quảng cáo. Vậy hãy xem quảng cáo để nhà Đài có chương trình hay mà phục vụ. Cái logic ấy, dân forum có lẽ không lạ. Các forum sống bằng donation nhắc nhở mem click mấy cái link quảng cáo là biểu hiện tương tự của một hiện tượng. Có điều, khi thị trường chưa được công nhận ở khía cạnh quản lý, thì làm sao giải thích cho người tiêu dùng nghe đây? Mấy hôm vừa rồi loáng thoáng tin thành lập các Tập đoàn Viễn thông, Tập đoàn Điện Năng, Tập đoàn v.v... nhưng chưa nhắc đến Tập đoàn Truyền thông. Việc thành lập các Tập đoàn là bước tiếp theo của quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Đến đây, có ai hỏi Đài Truyền hình là cơ quan hành chính sự nghiệp hay doanh nghiệp không? Nếu có ai hỏi, thì ghi nhớ cụm từ "hành chính sự nghiệp có thu". Ngôn ngữ phản ánh bối cảnh xã hội. Trong lúc cổ phần hóa đang được đốc thúc để diễn ra nhanh hơn ở các ngành khác, thì ngành truyền hình vẫn đóng vai người quan sát. Cổ phần hóa thì có lẽ không, nhưng đâu đó đã có người nêu ý kiến về việc thành lập Tập đoàn Truyền thông từ vài năm qua rồi. Cấu trúc bên trong của thị trường truyền hình Vậy là chúng ta đã điểm sơ qua bối cảnh của thị trường truyền hình. Xin được nói rõ thêm về cấu trúc bên trong nó. Cấp Trung ương, bài tóan chấp nhận & hình thành thị trường các ngành đang được đặt trên bàn giấy của các vị lãnh đạo đầu ngành & thủ tướng chính phủ. Làm sao quản lý thị trường theo tập quán quốc tế mà không để tư nhân và doanh nghiệp nước ngòai lũng đọan nền kinh tế, từ đó có thể tác động không lành mạnh đến nền chính trị quốc gia đang ở trạng thái ổn định khiến các nước trong ASEAN nhìn qua thèm thuồng. Cấp cơ sở, nội trong ngành truyền hình, các họat động kinh tế, đầu tư đang diễn ra gấp rút hơn bao giờ hết. Các Đài hết cơi nới antenna, lại tăng công suất phát sóng ngõ hầu mở rộng "vùng phục vụ". Một câu nói đùa của các bác: cái antenna là cái cần câu cơm. Khối tư & liên doanh, trong khi các công ty quảng cáo quốc tế co lại thành các tập đòan theo xu hướng tòan cầu, thì các công ty quảng cáo trong nước ra đời như nấm mọc sau mưa đến nỗi có cảm giác nhà nhà làm media, nhà nhà làm chương trình truyền hình. Thị trường dịch vụ media cũng bắt đầu phân khúc và khách hàng mang nhiều bộ mặt khác nhau. Khi có nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường để kinh doanh thời lượng quảng cáo, giá quảng cáo "chợ đen" rẻ hẳn so với "chợ chính thức". Còn khách hàng cũng muôn dạng muôn vẻ: có người thích ăn ngon, chỉ thích ngồi nhà hàng, thưởng thức chiến lược, và không nhạy cảm giá. Nhưng cũng có người thích ăn chỉ cốt no, thích ngồi lề đường, không quan tâm đến chiến lược, chỉ quan tâm đến giá. Có lẽ vì chiến lược của họ đã hòan hảo rồi chăng? Còn người tiêu dùng, sung sướng thưởng thức đặc quyền của thượng đế và không ngại than phiền mỗi khi có dịp. Chợ dịch vụ media bây giờ đông rồi & đăng ký nhập chợ cũng không còn khó khăn như trước. Các nhà đầu tư chen chúc, đông đến nỗi không thể vung cuốc trên mảnh đất người đời mà không bổ nhầm phải đầu hay chân kẻ khác. Cách quy họach chương trình cũng phải phá cách để nhét thêm được các nhà đầu tư. Game show với thời lượng 45 hay 60 phút nay có cái chỉ còn một5 phút, phá vỡ nguyên tắc thời lượng tối thiểu; hoặc có cái 50 phút, phá vỡ nguyên tắc thời lượng chẵn của môn khoa học quy họach phát sóng. Trước tình hình này, có người ta thán bằng hai chữ "bát nháo!", nhưng nhiều kẻ cũng tủm tỉm cười khi thấy cơ hội đang phân đều trong xã hội. David nay có thể tồn tại chung với Goliath và không còn sợ Goliath như sợ ma. Goliath chọn cách chung sống hòa bình, tuy đôi lúc hơi khó chịu vì David nó cứ làm mình... nhột. Analog có vẻ đã hết chỗ. VTV3 đã hết chỗ. HTV7 đã hết chỗ. Tuy còn VTVmột & HTV9, nhưng nhà đầu tư không dám mạo hiểm sau một thời gian dài theo dõi thấy người tiêu dùng không lắm mặn mà. Có kẻ đã liều mình đốt lửa tìm đường tiên phong hầu thiết lập lại thói quen cho người tiêu dùng. Những bộ phim Giày Thủy Tinh hay Thần Y Hơ-Giun được phát sóng trên VTVmột có lẽ với mục đích như vậy. Các "vệt" (từ của nhà Đài) phim trưa, chiều, tối trên HTV9 cũng không nằm ngòai một mục đích khiến người tiêu dùng thay đổi phím bấm trên remote control. Giày Thủy Tinh & Thần Y nhận được phản ứng tích cực tức thời, nhưng không thể tốt ngang với VTV3, kênh truyền hình mà có thể nhắm mắt bấm nút vào lúc hai0h - haihaih là sẽ xem được một game show bất kỳ vào các ngày thứ hai,3,4,5,6. Còn VTVmột hết phim thì cũng gần như hết khán giả. Trong khi đó, HTV9 hơn hai năm qua cần mẫn xây dựng các vệt giờ mới, đang phấn chấn với Mùi Ngò Gai một00 tập ở thời điểm một8h - một9h các ngày CN, thứ hai, thứ 3, được sản xuất với công nghệ và tài năng Hàn Quốc. Đã xuất hiện những dấu hiệu lạc quan. Bấy nhiêu thử nghiệm có lẽ cũng vẫn chưa đủ. Trong lúc analog chật chội ngột ngạt, thì digital & cable xuất hiện như những giải pháp công nghệ của thời đại mới. Dĩ nhiên trước tiên phải nói đến VTC, vừa có kinh nghiệm truyền hình, lại có lợi thế viễn thông, tận dụng trục cáp quang Bắc Nam làm đà phát triển dịch vụ kỹ thuật số mặt đất (terrestrial digital). VTV phát triển hệ thống cable VCTV (Vietnam Cable TV), song hành cùng hệ thống HCTV (Hanoi Cable TV) phục vụ người dân thủ đô. Cùng lúc, VTV bắt tay Saigontourist lập ra SCTV (Saigon Cable TV) khai thác thị trường Tp.HCM. Bên cạnh đó, VTV còn có thêm dịch vụ DTH (Direct To Home), còn gọi là dịch vụ kỹ thuật số vệ tinh (satellite digital) phục vụ cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, chính là để phủ sóng những vùng tối mà sóng analog & các kỹ thuật khác không thể vươn tới đượ̣c. HTV Tp.HCM phát triển hệ thống cable HTVC (Hochiminh TV Choice - hic! ) với chiến lược dạt ra các quận huyện vùng ven nơi SCTV chưa thể đầu tư đường cáp, cạnh tranh head-on với dịch vụ MMDS (Multichannel Multipoint Distribution Service, hay đơn giản hơn là Wireless Cable) của SCTV. Ở các tỉnh khác, vài nơi xuất hiện các cable operator tại địa phương. Và hết thảy người dân có thể ra tiệm mua một đầu thu kỹ thuật số, dù đó có thể là đầu của VTC phân phối, đầu của công ty khác phân phối như Humax, hoặc đầu thu có nguồn gốc nhập lậu từ Trung Quốc để xem các kênh do VTC chuyển tải. TV penetration giờ đã đạt được 88%. Với hơn 80% dân số Việt Nam sống ở đồng bằng, điều đó liệu có gợi nên điều gì có nghĩa? Ai là ai? Điểm qua bối cảnh kinh tế chính trị & mối quan hệ giữa nhà Đài - công ty quảng cáo / sản xuất chương trình và người tiêu dùng, đến đây chúng ta có thể bàn về từng Đài cụ thể được rồi. Như đã nói ban đầu, toàn quốc 64 tỉnh thành thì có 67, 68 Đài Truyền hình. Mỗi Đài lại có thể có nhiều kênh analog và digtal / cable. Những ngày đầu đi làm, tôi phát hoa cả mắt khi phát hiện mình không thể nào nhớ nổi tên từng Đài Truyền hình vì có vẻ chẳng có một quy tắc chỉ mặt đặt tên nào cả. Nhưng điều đó hoàn toàn sai. Bỏ thời gian ngồi gom lại bảng giá của tất cả các Đài Truyền hình, mới thấy tên Đài chính là tên tỉnh, phản ánh tư duy nhất quán trong quy hoạch tỉnh-module-pháo đài mà tôi đã đề cập ở bài đầu tiên. Mỗi tỉnh, thành: có một Đài Phát thanh truyền hình, vừa phát hình, vừa phát thanh. Nội chính, nhân sự, tổ chức của các Đài PTTH tỉnh thực hiện theo sự lãnh đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành đó. Vì vậy, thành phố Hà Nội có Đài PTTH Hà Nội. Tỉnh Lâm Đồng có Đài PTTH Lâm Đồng. Vừa rồi, Đắk Nông tách ra khỏi Đắk Lắk; Hậu Giang ra khỏi Cần Thơ, nên có thêm hai Đài PTTH Đắk Nông & Hậu Giang. Đài Truyền hình Việt Nam - VTV & Đài Tiếng Nói Việt Nam - VOV đặt trụ sở tại Hà Nội, được xem như cơ quan ngang Bộ. Tổng giám đốc là đại biểu Quốc hội, ngang hàm Bộ Trưởng. Phó tổng ngang hàm Thứ Trưởng và Trưởng ban ngang hàm Cục trưởng. Lịch sử đã chứng kiến VTV & VOV hết nhập lại tách, hết tách lại nhập đôi lần. Các tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh Phú Yên, thành phố Đà Nẵng, và thành phố Cần Thơ: bên cạnh các Đài Phát thanh truyền hình địa phương, còn có các Đài Truyền hình khu vực trực thuộc VTV. Tên gọi đã được sửa lại cho thống nhất vài năm qua: HVTV: tức là VTV tại Huế, DVTV: tức là VTV tại Đà Nẵng. PVTV: là VTV tại Phú Yên & CVTV: VTV tại Cần Thơ. Nhân sự của 4 Đài này đương nhiên do VTV bổ nhiệm, không thông qua Ủy ban tỉnh. Tp. HCM: Đài Truyền hình Tp.HCM - HTV & Đài Tiếng Nói Tp.HCM - VOH tồn tại độc lập, mặc dù các năm sau giải phóng đã từng sáp nhập, sau đó lại phân chia thành hai cơ quan riêng biệt. Đứng ở phương diện quản lý ngành, HTV là Đài Truyền hình địa phương. Nhưng tọa lạc ở một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị lớn nhất nước, nên HTV có tiềm lực & lợi thế kinh tế to lớn không thua gì VTV. Nếu có điểm gì thua VTV, thì có lẽ là yếu tố con người. Một điểm thú vị là, tuy Đài dùng tên tỉnh để xưng tên, nhưng thiên hạ lại thích dùng tên thị trấn, thành phố có trụ sở của Đài để gọi. Thay vì gọi là Đài Lâm Đồng, thì mọi người lại gọi là Đài Đà Lạt. Thay vì là Đài Khánh Hòa, thì mọi người lại gọi là Đài Nha Trang. Thay vì là Đài Bình Định, thì lại gọi là Đài Quy Nhơn, v.v... Trong lúc nghiên cứu để làm software quản lý thông tin công việc (dịp khác sẽ bàn đến việc này sau), tôi phát hiện một chi tiết thú vị là: Tên tỉnh thường có hai chữ. Các trường hợp như Thừa Thiên Huế hay Bà Rịa - Vũng Tàu là ngoại lệ ít gặp. Nếu lấy chữ cái đầu của chữ đầu tiên, ghép với chữ thứ hai, ta sẽ được tổ hợp mã / tên ngắn dùng để gọi Đài mà không trùng nhau. Ví dụ: An Giang => AGIANG Thanh Hoa => THOA Nghe An => NAN Long An => LAN Quy luật này giúp tôi một phương pháp ưu việt để gán mã Đài để quản lý trong software: mã ngắn, không trùng lặp (ngoại trừ trường hợp Hậu Giang & Hà Giang), nhưng vẫn tường minh và có thể sort tăng hay giảm theo ký tự ABC... Nhìn vào vẫn có thể hiểu ngay, chỉ cần thuộc tên 64 tỉnh thành của cả nước. Có lẽ chuyện này không quá khó đối với người có trình độ từ cấp hai trở lên. Đó là mảng analog. Mảng kỹ thuật số mặt đất thì VTC đã được nâng cấp từ Trung tâm truyền hình kỹ thuật số lên Đài Truyền hình Kỹ thuật số Việt Nam. Về mặt tên gọi, thì chỉ vướng mỗi cái vụ tên ngắn: ba chữ cái VTC không đại diện được cho tên gọi chính thức mới được cấp phép hai năm gần đây. Ngoài VTC ra, thì một số Đài tỉnh cũng chọn phát triển thêm công nghệ kỹ thuật số mặt đất như trường hợp của Đài PTTH Bình Dương & HTV Tp.HCM. Nét đẹp của VTC đem lại cho đời là nhờ có VTC mà người Hà Nội và các tỉnh khác xem được HTV Tp.HCM, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các miền. Về mặt kinh doanh, sau một thời gian launching rầm rộ, dù hiệu quả tức thì cho mặt trận kinh doanh set-top box, VTC nhận ra bản thân kỹ thuật số mặt đất cũng chưa đem lại cho họ thành công như mong muốn trên mặt trận kinh doanh quảng cáo. Tình hình tạm ổn tại Hà Nội, chí ít là về channel share. Nhưng tại Tp.HCM, vựa quảng cáo phì nhiêu trông cứ phơi phới mà chưa khai thác được, doanh số rớt xa mục tiêu mong muốn. Phân tích các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, VTC âm thầm phát sóng luôn cả trên tín hiệu analog, ngõ hầu phủ sóng luôn các hộ còn lười không chịu gắn thêm cái đầu thu. Chỉ thiếu sót một điều là, máy đã phát rồi, nhưng chưa có giấy phép & một vài lý do tế nhị khác, cho nên không thể làm PR, dân không thể biết để buồn tay rà thử lại kênh, và agency thì đương nhiên là ngần ngại. Ai cạnh tranh ai? Mọi sự vẫn tạm tập trung vào analog: cạnh tranh của thị trường analog là sự cạnh tranh để share người tiêu dùng, từ đó share doanh thu quảng cáo. Sự cạnh tranh giữa các Đài địa phương: Điều này rõ nét ở các tỉnh, thành vùng đồng bằng. Với công suất máy phát hai0kw, chiều cao cột antenna một00m, tín hiệu có thể đi xa từ một50km - hai00km tùy theo địa hình. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc đầu tư để tăng công suất phát hoặc tăng chiều cao cột antenna, nếu được duyệt, không còn là vấn đề nan giải. Tuy vậy, công suất phát & chiều cao antenna chỉ giúp cải thiện penetration bao gồm diện phủ sóng & cường độ phủ sóng, chứ không thể buộc người tiêu dùng phải chọn xem cái gì. Tại khu vực Tp.HCM & Đông Nam Bộ, người dân tại Phan Thiết, Vũng Tàu, Bình Dương, Tiền Giang có thể xem tốt HTV. Tuy không có dữ liệu thống kê người xem ở các tỉnh xung quanh Tp.HCM, nhưng tôi tin khi các chương trình của HTV7 như Chung Sức, Trúc Xanh, Hát Với Ngôi Sao và Nốt Nhạc Vui lên sóng, thì phần lớn người dân ở các khu vực lân cận sẽ bật sang HTV7. Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, người dân tại Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nam, Hải Dương, có thể cả Ninh Bình & một phần Hòa Bình xem tốt tín hiệu Đài PTTH Hà Nội. Nếu gác VTV qua một bên, thì tôi tin người dân ở các tỉnh này sẽ bật qua kênh Hà Nội 6 để xem chương trình Đuổi Hình Bắt Chữ, nhộn nhạo với phong cách dẫn chương trình của MC Xuân Bắc. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, từ ngày Đài PTTH Vĩnh Long "dũng cảm", hay "táo bạo?" lấy băng video ngoài tiệm về phát sóng hồi cách đây gần một0 năm, người dân Đồng bằng sông Cửu Long, ngoại trừ Cà Mau, luôn chọn Vĩnh Long là kênh truyền hình số một. Hơn bất kỳ nơi nào trên dải đất hình chữ S bên bờ Biển Đông, người dân vùng này ghiền thể loại phim kiếm hiệp, nói cách bình dân là phim Tàu, đến nỗi phim Hàn chỉ dám đứng hạng hai. Tại khu vực miền Trung & Cao Nguyên, dải Trường Sơn trập trùng là nguyên nhân chính khiến sóng truyền hình không thể đi xa. Sự cạnh tranh giữa VTV & các Đài địa phương: Nhiều expat tại Việt Nam không gọi VTV là Đài Truyền hình như chúng ta vẫn gọi, mà gán thêm cho VTV từ network với dụng ý so sánh với thị trường các nước lân cận. Thật ra, VTV không hoàn toàn là network theo nghĩa được sử dụng tại các thị trường khác, nơi một network có nhiều chi nhánh trên toàn quốc & chỉ tiếp sóng một nội dung, cùng lúc ở tất cả các điểm. Tại Việt Nam, kể từ năm một99một, kênh VTVmột được phát sóng lên vệ tinh, để các Đài địa phương thu sóng & sau đó mới phát đến thiết bị đầu cuối của mỗi hộ gia đình. Theo pháp lệnh, toàn bộ các Đài địa phương có nhiệm vụ phải tiếp sóng đầy đủ 45 phút bản tin thời sự của VTVmột. Vì vậy, dù sau này các kênh khác của VTV cũng lên sóng vệ tinh, nhưng các Đài địa phương hiểu rằng, ngoại trừ 45 phút thời sự từ một9h - một9h45, việc tiếp sóng các nội dung khác của VTV, bao gồm cả quảng cáo là tùy hỷ, không bắt buộc. Điều này dẫn đến việc các Đài địa phương thường chọn tiếp chương trình hay của VTV (đặc biệt là VTV3), nhưng ngồi canh đến lúc phát quảng cáo thì ngưng tiếp sóng mà chuyển qua phát quảng cáo của mình. Nếu không làm vậy thì các Đài địa phương không thể có nguồn thu, và không có nguồn thu thì không thể cải thiện cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, nội dung chương trình v.v... Để khắc phục tình trạng này, VTV cũng vận động nhiều cách rất "thị trường". Trước hết là hỗ trợ tài chính, kỹ thuật & chất xám cho các Đài khu vực trực thuộc VTV tại địa phương (HVTV, DVTV, PVTV & CVTV), để tăng cường độ ảnh hưởng của các Đài này trong khu vực. Với HVTV là thị trường Huế, DVTV là thị trường Đà Nẵng, PVTV là thị trường Nha Trang, Đà Lạt & CVTV là thị trường Cần Thơ. Dĩ nhiên, mục tiêu trên hết là tuyên truyền, thứ đến mới là doanh thu quảng cáo nếu thấy phù hợp. Thứ hai, là chọn một số Đài địa phương để hỗ trợ, đổi lại Đài này sẽ hoạt động một phần như một Đài trực thuộc VTV, trong đó có một số Đài có vị trí quan trọng không chỉ về mặt thị trường & cần được quan tâm, đầu tư. Trong những rào cản cho penetration của VTV tại địa phương, bên cạnh yếu tố kỹ thuật, là các yếu tố về con người. Đa số người dân Nam Bộ cảm thấy các phát thanh viên, phóng viên & MC trên VTV nói quá nhanh, không hiểu & không xem chương trình của VTV. Ngoài ra, thói quen sử dụng TV cũng góp phần quan trọng. Tôi tin rằng rào cản ngôn ngữ sẽ dần mất đi sự cản trở của nó về lâu về dài. Bằng chứng là cách đây 5 năm, share của VTV tại Cần Thơ rất thấp, thấp ngang Tp.HCM, một hiện tượng chung xảy ra ở Nam Bộ để có thể có cùng một lý giải về nguyên nhân. Tuy nhiên, hiện nay share của Ai Là Triệu Phú - VTV3 tại Cần Thơ khá cao, cao hơn rất nhiều so với kênh CT43 (Đài Truyền hình thành phố Cần Thơ), & cao ngang với một số chương trình hay trên kênh CVTVhai. Trong khi đó, share của VTV3 tại Tp.HCM ngày càng đi xuống, do không cạnh tranh nổi với các game shows của HTV được tính toán phát cùng thời điểm & cạnh tranh head-on! Thiên thời, địa lợi, nhân hòa; thật thú vị khi thấy 50% hộ xem TV tại Tp.HCM luôn để HTV7 ở chế độ mặc định khi nhấn nút power on vào lúc một9h, chí ít trong vài phút đầu tiên trước khi chuyển qua kênh khác, nếu có. Trong bối cảnh như vậy, VTV không ngừng phát triển về mọi mặt, luôn xứng đáng là anh Cả Đỏ trong ngành cả về mặt tuyên truyền lẫn kinh doanh. Nếu những con người đã từng, đang & sẽ làm việc tại VTV không tỏ ra xứng đáng với nhiệm vụ được giao, VTV không có ngày hôm nay & ngày mai sẽ là một tương lai ảm đạm cho ngành truyền hình & nền chính trị nước nhà. Không phải vô tình mà tôi đang hầu chuyện các bạn, mở ra cho các bạn thấy những khía cạnh khác nhau của VTV trước khi bàn về VTC & nội dung chính của chủ đề do meomuop khởi xướng: VTV - VTC không đội trời chung. Trong bối cảnh như vậy, sự ra đi khỏi VTV của VTC là một thực tế, một nỗi niềm khó san sẻ cùng ai. Vì một ngày mai sẽ phải sánh vai ngang với cường quốc năm châu, xóa bỏ độc quyền đang là chủ đề đang được bàn luận sôi nổi trong 83 triệu dân. Và nhiều người cho rằng sự ra đời của Đài Truyền hình KTS Việt Nam VTC là một trong những động thái để xóa bỏ độc quyền trong ngành truyền thông. Theo tôi, điều kiện chưa chín muồi để chúng ta có thể suy nghĩ theo hướng như vậy. Trong khi chưa tồn tại một thị trường truyền hình đúng nghĩa, Nhà nước vẫn còn phải bao cấp một phần hoặc toàn phần để các Đài Truyền hình hoạt động và phục vụ. Trong khi người tiêu dùng vẫn được xem truyền hình miễn phí, những lời than phiền hay góp ý vẫn được lắng nghe & tiếp thu. Một khi ý thức xem truyền hình là một cách để bảo vệ đất nước, đồng thời góp phần cho nền kinh tế phát triển, chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi có chương trình truyền hình để xem, dù chương trình đó được phát trên kênh nào, Đài nào. Vậy, tôi xin chúc mọi người hạnh phúc! VTC & AFF Cup Khi các bạn đọc bài này, thì AFF Cup đã khép lại với kết quả Singapore đoạt cup, Thái Lan huy chương bạc, Việt Nam & Malaysia đồng hạng ba, đoạt huy chương đồng. VTC tạm hài lòng khép lại AFF Cup: giải có nhà tài trợ, bán được quảng cáo, thế là đạt yêu cầu của một kế hoạch ngắn hạn. So với World Cup năm ngoái, sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh dẫn đến cuộc chiến cạnh tranh giành bản quyền cũng căng thẳng hơn, có giành được cũng phải mất nhiều hơn, thì VTC tạm gọi là có thu hoạch chút ít với AFF Cup. Mùa World Cup năm ngoái, tình thế của VTC hoàn toàn khác so với năm nay. Năm ngoái bài toán của VTC chỉ dừng lại ở tactical, cố gắng tác động PR, vận động với VNPT để ảnh hưởng đến FPT phải nhượng bộ chia sẻ quyền phát sóng vào phút chót. Năm ngoái VTC phát World Cup cũng chỉ để tranh thủ lấp đầy những "vùng trũng, vùng tối" mà VTV & HTV không thể "phủ sóng" hết. Rải rác trên toàn cõi Việt Nam, ít ra lúc đó cũng đã có hơn 3 triệu đầu thu đang hoạt động khi trái banh Teamgeist đang lăn trên các sân cỏ nước Đức giữa giai điệu Hips Don't Lie nghe đến nhức đầu mỗi đêm. AFF Cup năm nay tình thế hoàn toàn khác. Bài toán của VTC đã được nâng độ khó lên tầm chiến lược. Bàn cờ thế bày ra trong lúc VTV ngại ngần không dám đối thoại với nhà cung cấp bản quyền, vì lên phương án kêu gọi tài trợ cả năm mà chẳng khách hàng nào đứng ra cam kết sau khi nhà tài trợ có công tham gia sáng lập giải là Tiger Beer quyết định đột ngột ra đi. Thông tin báo về đối tác Hong Kong đang hoang mang & thất vọng vì cách VTV phản ứng. Những bộ óc quản lý ở VTC cân nhắc phải làm gì đây để tiếp tục xây dựng tên tuổi của VTC thành một đối trọng tầm cỡ của hai đại gia analog là VTV & HTV. Quyết định được đưa ra: không thể bỏ lỡ cơ hội quý báu này, dù lỗ cũng phải làm, vì một00 năm mới có một lần VTC phát cái mà VTV không có. Đây có thể là bước ngoặt quan trọng để share khán giả từ analog platform qua digital platfrom. Đây có thể là cơ hội để VTC bứt phá, chí ít là tăng tốc ngang bằng với VTV trong cuộc đối đầu trực tiếp, ngay trên chiến tuyến định vị tương đồng: thể thao & bóng đá. Đây cũng có thể là cơ hội để người ta nhớ đến & tiêu thụ dịch vụ của VTC vì thể thao & bóng đá hơn là vì cơ hội được đàm tiếu về những scandal của VTC như trước đây. Vì thế mới xảy ra chuyện VTC nhất quyết khước từ mọi khả năng chia nhượng quyền phát sóng AFF Cup với VTV, dù báo chí không biết vô tình hay được tác động, lác đác nói lên sự thiệt thòi của bà con vùng sâu, vùng xa nhất là những người lính trẻ đang làm nhiệm vụ nơi hải đảo khi không có AFF Cup để xem. Một sự thiệt thòi chính đáng vì đánh mất cơ hội hồi hộp ủng hộ đội tuyển Việt Nam yêu dấu. Nhưng khi tầm nhìn chiếc lược tổng thể say Yes, thì bài toán tài chính lại say No. Những cái đầu làm truyền hình thể thao của VTC hiểu rằng không thể làm thể thao mà không có bình luận, và không thể bình luận nếu không có insights và tin nóng thu nhặt trực tiếp, tại chỗ bởi đội ngũ phóng viên, biên tập viên thể thao có tay nghề. Chi phí ăn ở & tác nghiệp cho đoàn phóng viên xuất ngoại ít là hai0 người hiện ra trước mắt trong bản đề xuất kế hoạch công tác. Bên kia là bản đề xuất kế hoạch kêu gọi tài trợ & quảng cáo. Hai con số đốp chát bôm bốp. Giỏi lắm là hòa. Có nên làm hay không? Và làm để làm gì? Động thái thăm dò tiếp theo chứng tỏ bản lĩnh của người làm chiến lược: đề xuất VTV tiếp sóng các trận của AFF Cup có cả quảng cáo. Một mặt xoa dịu được dư luận ở thông điệp phục vụ, mặt khác xoa dịu được sự khó chịu của anh hai VTV, đồng thời giải quyết luôn bài toán tài chính. Chịu lùi một bước từ vị thế strategic xuống còn tactical. Có thể ta chưa đủ lực để là market leader, nhưng ta không thể không là key challenger có khả năng tạo áp lực lớn cho đối thủ - một bước nhân nhượng thực tế. Dù gì nếu thành công trong cuộc thương lượng này, mọi lợi ích từ dư luận đem lại ngõ hầu đóng góp cho việc đồ đậm dịch vụ thể thao & bóng đá của VTC qua những cuộc trao đổi trên báo chí diễn ra trước giải, VTC cũng đã thưởng thức trọn vẹn. Thực tế diễn ra như thế nào đã rõ. VTV nhất quyết không chấp nhận lời đề nghị tiếp sóng tiếp cả quảng cáo của VTC. Hơn ai hết, VTV biết rõ mình cần phải hoặc trở thành người điều khiển cuộc chơi, hoặc không tham gia cuộc chơi, chứ không thể tham gia cuộc chơi theo luật của kẻ khác. Điều quan trọng nhất lúc này là, làm thế nào để xoa dịu dư luận đang soi VTV như là một kẻ cố chấp, chỉ nhìn thấy quyền lợi của mình mà quên đi quyền được phục vụ & thưởng thức bóng đá của 83 triệu dân. Nếu không thể giải quyết bài toán dư luận bằng chính các công cụ dư luận, mà phải nhượng bộ chấp nhận luật chơi của VTC, hơn ai hết VTV biết rõ bước nhượng bộ này sẽ dẫn đến hàng loạt nguy cơ khác khi tạo điều kiện cho VTC tiếp xúc với những tay chơi quan tâm & sử dụng bóng đá & thể thao làm công cụ marketing. Leave It or Take It? Leave It - cần phải giải quyết vấn đề dư luận bằng chính công cụ dư luận. Không nên để đối thủ có cơ hội được đằng chân, lân đằng đầu. Hơn nữa, dư luận về AFF Cup chỉ nóng tỉ lệ thuận cùng với thành quả của đội tuyển Việt Nam. VTV không phải không còn những nhà làm thể thao có tay nghề để có thể đo trước được thành quả của đội tuyển, từ đó đo được nhiệt độ của dư luận & đánh giá được mức độ ảnh hưởng tiêu cực của dư luận có thể tạo ra đối với uy tín của mình. Và tiếng còi khai cuộc đã vang lên, trái bóng đã lăn. Trước khi Được và Mất nhìn thấy được trên thương trường, những tính toán có thể đã xảy ra theo chiều hướng như vậy. Một bữa ngồi nhậu lề đường cùng Open Share, tranh thủ liếc mắt xem quán nhậu đang phát AFF Cup trên kênh nào, tôi chợt nhận ra VTC vẫn còn một con đường dài phải đi. Bản thân chiếc áo digital dường như không còn vẻ hào nhoáng như khi vừa mới khoác. Đâu là nguyên nhân khiến cho VTC phải dùng analog để hỗ trợ cho digital? Tại sao VTC phải liên kết với một số Đài analog nhỏ thân thuộc để tiếp sóng AFF Cup? Tại sao VTC phải vận hành cả trên analog (VTC hiện đã phát analog tại Hà Nội & Tp.HCM) mà không phát huy được hết những điểm mạnh digital có thể đem lại như được tung hô trong những ngày đầu tiên? Phải chăng cable giá rẻ chính là nguyên nhân? (More to read at http://360.yahoo.com/thaihoa_dang1975) |  Article Tools | | | | | |